* GIAI ĐOẠN TỪ NĂM THÀNH LẬP 1967 ĐẾN 1975.
Trường mang tên là trường Phổ thông cấp 2 Đồng Sơn.
Trong thời kì này, cùng nhân dân cả nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa kháng chiến chống Mĩ, nhân dân Đồng Sơn nói chung, thầy và trò trường Phổ thông cấp 2 nói riêng đã dấy lên lòng yêu nước, căm thù giặc Mĩ xâm lược, sẵn sàng làm bất cứ việc gì thực hiện lời kêu gọi: “Chống Mĩ cứu nước” của Bác Hồ, góp phần bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà..
Đồng Sơn nằm trong trọng điểm bắn phá của Đế quốc Mĩ. Cũng như nhân dân địa phương mọi hoạt động của nhà trường đến chuyển sang “hoạt động thời chiến” . Nhân dân địa phương đã đào hàng trăm mét giao thông hào xung quanh các lớp học, làm được 1.145 hầm chữ A và hố cá nhân để học sinh trú ẩn khi đến lớp. Các em học sinh đều đội mũ rơm, thắp đèn dầu đến lớp học ban đêm. Dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù, gian khổ hiểm nguy là vậy mà các em học sinh vẫn đi học chuyên cần, chăm ngoan, học giỏi, nhiều em là cháu ngoan Bác Hồ, nhiều em đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp trường, huyện, tỉnh. Với tinh thần “tiếng hát át tiếng bom” phong trào văn nghệ của nhà trường vẫn rất sôi nổi.
Các em không chỉ là con ngoan, trò giỏi mà còn là những xã viên tích cực của “Hợp tác xã Măng Non”. Các em đi bắt cua và tiết kiệm mua quà tặng các bà, các mẹ bện áo giáp, mũ rơm tặng các chú bộ đội.
Ngày 3/9/1969, trong lúc chuẩn bị bước vào năm học mới thì tin sét đánh đến với thầy trò trường Phổ thông cấp 2 Đồng Sơn cùng nhân dân cả nước: Hồ Chủ Tịch từ trần! Sau một tuần để tang Bác trong phong trào thi đua: “Biến đau thương thành hành động cách mạng”, thầy và trò trường Đồng Sơn lại tiếp tục thi đua dạy tốt, học tốt. Kết thúc năm học 1969 -1970 trường Phổ thông cấp 2 Đồng Sơn đã bình chọn được 130 em trong tổng số 147 học sinh của trường đạt tiêu chuẩn cháu ngoan Bác Hồ.
Sau tháng giêng năm 1973, miền Bắc được hoà bình, miền Nam tiếp tục chiến tranh giải phóng đất nước. Nhân dân Đồng Sơn đã tích cực đóng góp xây dựng, mở rộng trường học, phát triển sự nghiệp giáo dục. Từ năm học 1973 -1974 và nhiều năm tiếp theo, trường phổ thông cấp 2 đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện. Trong 3 năm học từ 1973 -1974 đến năm học 1975 -1976 số học sinh giỏi cấp huyện của trường bằng 1/2 tổng số học sinh giỏi ( cấp huyện) của toàn huyện.
* Giai đoạn từ năm 1976 đến 1994.
– Sau tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, Nam – Bắc về chung một nhà, Đồng Sơn cùng nhân dân cả nước thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976 – 1980). Cùng với sự phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương thì sự nghiệp giáo dục xã nhà cũng được phát triển mạnh và ngày càng nâng cao về chất lượng. Phong trào thi đua “Hai tốt” được giáo viên và học sinh tích cực hưởng ứng. Năm học 1976 -1977 trường xây dựng thêm 30 gian phòng học (nhà cấp 4). Đội ngũ giáo viên không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng cả về chất lượng: Năm học 1976 -1977 có 5 giáo viên dạy giỏi.
– Từ năm 1977 đến năm 1989: Nền kinh tế cả nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Đời sống giáo viên cực kì khó khăn, đồng tiền mất giá với tốc độ phi mã… đạo đức của học sinh bị xuống cấp, truyền thống tôn sư trọng đạo bị sói mòn, địa vị xã hội của ngưòi thày bị coi rẻ, nhiều giáo viên nản lòng trước khó khăn đã bỏ nghề đi buôn bán. Các thày cô giáo có tâm huyết với nghề vẫn quyết tâm đứng vững trên bục giảng. Tuy nhiên, để bám trường bám lớp các thày cô giáo phải tranh thủ chăn nuôi đan lát, may đo… Việc xây dựng đội ngũ của nhà trường gặp vô vàn khó khăn; lực lượng các thày cô giáo giỏi, nhiệt tình, yêu nghề, làm việc nghiêm túc không được ủng hộ.
Đây cũng là thời kì trường phổ thông cấp 1 và trường phổ thông cấp 2 hợp nhất thành trường phổ thông cơ sở cấp 1 -2 do các thày cô giáo làm hiệu trưởng là: Thày Nguyễn Ngọc Từ (năm học 1977 – 1978 đến hết năm học 1980 – 1981) thày Đỗ Ngọc Dũng (năm học 1981 – 1982), cô giáo Chu Thị Chiên ( từ năm học 1982 -1983 đến tháng 8 năm 1989).
Giữa lúc đời sống kinh tế đang vô cùng khó khăn thiếu thốn thì việc sát nhập hai trường cấp 1 và cấp 2 làm một như vậy lại càng làm cho các thày cô giáo phải gánh thêm trách nhiệm nặng nề hơn. Đời sống của cán bộ giáo viên vốn đã khó khăn nay càng khó khăn vất vả hơn, đặc biệt là các thày cô giáo quê ở xa phải sinh hoạt tại khu tập thể của nhà trường. Để giảm bớt phần nào khó khăn cho các thày cô giáo, nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã giúp đỡ nhà trường bằng những việc làm rất thiết thực: Hợp tác xã thôn Đồng Quan cung cấp trấu làm chất đốt cho các thày cô ở tập thể, thôn Chùa miễn tiền đò cho các thày cô ở thị xã Bắc Giang và cho các thày cô ở tập thể mượn gần một mẫu ruộng để cấy lúa, trồng rau. Hợp tác xã Phấn Sơn tặng lốp xe đạp cho các thày cô giáo dạy ở khu Phấn Sơn, thôn Tân Mỹ, Sòi cho giáo viên địa phương mượn ruộng để cấy lúa. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể thường xuyên đến trường thăm hỏi, động viên các thày cô giáo. Chính sự quan tâm và những tình cảm sâu đậm ấy của các cấp lãnh đạp và nhân dân địa phương đã cổ vũ động viên kịp thời và tiếp thêm sức mạnh, nghị lực, học tốt. Nhiều thày cô giáo đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp huyện, cấp tỉnh như cô giáo Nguyễn Thị Thu, cô giáo Nguyễn Thị Lâm, thày Đỗ Ngọc Dũng, thày Hoàng Phi, cô Nguyễn Thị Thục, cô Đỗ Thuý Lan… Năm nào nhà trường cũng có nhiều học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh; đặc biệt năm học 1983 -1984, em Nguyễn Quang Tuấn được giải quốc gia môn toán lớp 8 (lớp cuối cấp).
– Từ năm học 1989 – 1990 đến tháng 8 năm 1994: Trường vẫn mang tên trường Phổ thông cơ sở cấp 1 -2 Đồng Sơn.
Năm học 1989 -1990 do thày Hoàng Hồng Lạc làm hiệu trưởng. Vì học sinh bỏ học nhiều nên năm học này trường không tổ chức được lớp cuối cấp (cả xã chỉ có 12 em học lớp 9 phải đi học nhờ các trường khác). Nhưng với mục tiêu kiên trì đẩy đội ngũ vững vàng về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ và thực hiện khẩu hiệu “Đứng vững trên bục giảng”, chi bộ và ban giám hiệu nhà trường vẫn tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Hai tốt và làm tốt công tác dạy bổ túc văn hoá – xoá nạn mù chữ cho thanh thiếu niên thất học. Cuối năm, trường đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.
Từ năm học 1990 -1991 đến năm học 1991 – 1992, hiệu trưởng là thày Hoàng Hồng Lạc. Trường vẫn tiếp tục phấn đấu theo mục tiêu trên. Nhà trường vừa đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt – học tốt vừa làm tốt công tác bổ túc văn hoá – xoá mù chữ. Ngay cả đồng chí hiệu trưởng cũng trực tiếp xuống thôn xóm dạy bổ túc văn hoá vào các buổi trưa, tối cùng với đội ngũ giáo viên tâm huyết với công việc này là: Thày Lương Tiến Lực, cô Chu Thị Chiên, cô Nguyễn Thị Dung… Hai năm học này, trường vẫn giữ vững danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.
Từ tháng 10 năm 1992 đến tháng 8 năm 1994: Hiệu trưởng là thày Thân Minh Phiếm; hiệu phó là cô Nguyễn Thị Quế. Trong những năm học này, trường vẫn mang tên là trường phổ thông cơ sở cấp 1 -2 Đồng Sơn. Nhà trường vẫn tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Hai tốt. Không chỉ nâng cao chất lượng các lớp bổ túc văn hoá – xoá mù chữ cũng được nâng cao. Có nhiều tấm gương tiêu biểu trong phong trào dạy bổ túc văn hoá – xoá mù chữ như cô giáo Chu Thị Chiên, cô Nguyễn Thị Dung đã tổ chức lớp học bổ túc văn hoá tại nhà mình để dạy các em trong thôn. Hằng năm số học sinh bổ túc văn hoá tốt nghiệp tiểu học ngày càng tăng; học sinh phổ thông bỏ học ngày càng giảm dần. Truyền thống hiếu học của xã nhà dần được khôi phục. Trong hai năm học này, trường vẫn đạt danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện. Trường được công nhận phổ cập cấp 1 đúng độ tuổi vào năm 1995.
* GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1994 ĐẾN 2010.
– Tháng 8 năm 1994.
– Tháng 8 năm 1994 Trường được tách ra từ trường phổ thông cơ sở cấp 1 – 2 Đồng Sơn và mang tên là Trường trung học cơ sở Đồng Sơn.
Trong thời kì này, cùng với sự phát triển nhanh, mạnh của đời sống nhân dân, sự nghiệp giáo dục xã nhà cũng không ngừng phát triển. Liên tục trong thời gian dài trường giữ vững danh hiệu trường tiên tiến cấp huyện.
5. Danh sách GV tiêu biểu:

STT Họ tên Thành tích đạt được
1 Chu Thị Chiên Hiệu trưởng, GVG huyện nhiều năm
2 Hoàng Hồng Lạc Hiệu trưởng – Phó ban kiểm toán nhà nước
3 Nguyễn Thanh Nga Nhà giáo ưu tú
4 Thân Minh Phiếm CSTĐ cơ sở nhiều năm – Hiệu trưởng trường THCS Tiền Phong
5 Đinh Xuân Tứ CSTĐ cơ sở nhiều năm
6 Trần Văn Huấn GVG Tỉnh – Hiệu trưởng trường THCS Thị trấn Neo
7 Bùi Thuý Hằng GVG Tỉnh – Hiệu trưởng trường THCS Đồng Sơn
8 Nguyễn Văn Tăng CSTĐ Cơ sở – PHT trường THCS Đồng Sơn
9 Nguyễn Ngọc Dương CSTĐ Cơ sở – PHT trường THCS Đồng Sơn
10 Vũ Thị Thuý GVG tỉnh
11 Đặng Thuỷ Mai GVG tỉnh
12 Nguyễn Văn Năm GVG tỉnh
13 Nguyễn Thị Bình GVG huyện nhiều năm
14 Hoàng Thị Thu Trang GVG huyện nhiều năm
15 Hoàng Thanh Thuỷ GVG huyện nhiều năm
16 Nguyễn Thị Lan GVG huyện nhiều năm
17 Nguyễn Thị Kim Chi GVG huyện nhiều năm
18 Nguyễn Thị Phụng GVG tỉnh
19 Nguyễn Thị Nhật Hồng GVG huyện nhiều năm
20 Tạ Thị Tiến GVG huyện nhiều năm
21 Trần Thị Bích Hảo GVG huyện nhiều năm
22 Đoàn Thị Minh Hồng GVG huyện nhiều năm

6 – Danh s¸ch häc sinh tiªu biÓu cña tr­êng thcs ®ång s¬n qua c¸c thêi kú – ®• thµnh ®¹t

Trong hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, trường THCS Đồng Sơn không chỉ góp sức người cho tiền tuyến đánh Mĩ và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, những người con ra đi làm rạng rỡ quê hương mà còn cung cấp cho Đảng, Nhà nước một số cán bộ đoàn thể, lực lượng an ninh quốc phòng, cán bộ khoa học trong các cấp ở huyện, tỉnh và trung ương. Nhiều học sinh Đồng Sơn nay đã trở thành trí thức xã hội chủ nghĩa. Tiêu biểu như các anh – chị sau:

STT Họ và tên Năm sinh Năm TN cấp II Học vấn cao nhất Chức vụ hiện tại Xóm
1 Khổng Minh Sở 1955 1970 ĐH Kinh tế Huyện uỷ viên, bí thư Đảng bộ xã Đồng Sơn( Nghỉ hưu 2011) Đồng Quan
2 Khổng Minh Đạt 1971 1985 ĐH Thuỷ Lợi Phó giám đốc Côn ty cấp thoát nước TP Bắc Giang Đồng Quan
3 Khổng Minh Hoàng 1973 1987 Bác sĩ chuyên khoa cấp 1 Trưởng phòng Y tế Công ty quản lý đường sắt Hà Lạng Đồng Quan
4 Trịnh Xuân Chi 1959 1975 Đại Học Y Trạm trưởng trạm y tế xã Đồng Sơn Đồng Quan
5 Khổng Đức Thanh 1975 1988 ĐH Sư phạm Chuyên viên văn phòng huyện uỷ Yên Dũng Đồng Quan
6 Nguyễn Chí Thắng 1957 1972 Đại học Phó trưởng phòng tổ chức hành chính trường Cao Đẳng nghề công nghệ và nông lâm Đông Bắc Đồng Quan
7 Khổng Tường Mão 1958 1974 ĐH Kinh tế Trưởng phòng chính sách Sở lao động thương binh xã hội Đồng Quan
8 Lưu Văn Toan 1972 1986 Thạc Sĩ Đang du học tại Mĩ để bảo vệ luận án tiến sĩ Chùa
9 Lưu Văn Toản 1975 1988 ĐH Thuỷ Lợi Phó phòng kế hoạch kĩ thuật Công ty cổ phần xây lắp thuỷ lợi Bắc Giang Chùa
10 Tạ Quang Khải 1973 1987 ĐH Kinh tế Tránh văn phòng UBND huyện Yên Dũng Chùa
11 Lưu Văn Miểu 1966 1980 Tiến sĩ Đại tá, học viện hậu cần – Bộ quốc phòng Sòi
12 Nguyễn Quang Tuấn 1970 1984 Đại Học Giảng viên trường đại học tài chính Hà Nội Sòi
13 Trịnh Văn Luyện 1962 1976 Đại học Phó trưởng phòng công thương huyện Yên Dũng Sòi
14 Trịnh Văn Khoa 1954 1970 Thạc sĩ Trưởng phòng lao động tiền lương sở lao động Bắc Giang Sòi
15 Thân Văn Khoản 1965 1981 Thạc sĩ Phó khoa điều trị Bệnh viện Lao và bệnh phổi tỉnh Bắc Giang Sòi
16 Nguyễn Thị Thư 1977 1991 Thạc sĩ Giảng viên trường trung cấp kế toán tài chính tỉnh Bắc Giang Sòi
17 Thân Văn Ổn 1958 1974 Trung cấp Trạm trưởng trạm bảo vệ thực vật thành phố Bắc Giang Sòi
18 Trịnh Văn Thanh 1962 1976 Đại học Phó trưởng phòng thanh tra tỉnh Bắc Giang Sòi
19 Trịnh Văn Giang 1984 1999 Đại học Chuyên viên dự án phòng chống HIV Sở Y tế Bắc Giang Sòi
20 Trịnh Văn Chất 1976 1991 Đại học Phó giám đốc ban quản lý dự án xây dựng huyện Yên Dũng Sòi
21 Thân Văn Lập 1954 1969 Sĩ quan Đại tá – Lữ trưởng lữ đoàn công binh 575 Phấn Sơn
22 Thân Văn Thành 1956 1971 Sĩ quan Đại tá – Nguyên cán bộ tỉnh đội Hải Dương Phấn Sơn
23 Thân Văn Đài 1954 1969 Sĩ quan Đại tá – Trưởng khoa trường Hạ sĩ quan quân sự I Phấn Sơn
24 Thân Văn Vân Sĩ quan Trung tá – cán bộ tỉnh đội Bắc Giang Phấn Sơn
25 Tạ Trung Hạnh 1961 1975 Sĩ quan Trung tá cán bọ chỉ huy quân sự tỉnh đội Bắc Giang Chùa
26 Lưu Văn Cường 1961 1975 Sĩ quan Trung tá cán bọ chỉ huy quân sự tỉnh đội Bắc Giang Chùa
27 Đinh Xuân Thanh 1972 1987 Sĩ quan (ĐH) Đại tá Công an Hà Nội Tân Mỹ
28 Bùi Văn Liễu Đại Học Trưởng phòng xuất nhập cảnh công an Bắc Giang Tân Mỹ
29 Phạm Văn Thanh Sĩ quan Thiếu tá trưởng đoàn trưởng tiểu đoàn thông tin Hà Nội Tân Mỹ
30 Đinh Văn Mừng 1975 1990 Thạc sĩ Đang du học tại Nhật Tân Mỹ
31 Thân Văn Huân 1976 1991 Đại học Ban tuyên giáo huyện uỷ Yên Dũng Phấn Sơn
32 Nguyễn Văn Tiền 1953 1969 Thạc sĩ Giảng viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội Phấn Sơn
33 Nguyễn Văn Xuân 1983 1998 Đại học Giảng viên trường Đại học Viễn thông Hà Nội Phấn Sơn
34 Nguyễn Văn Hùng 1979 1984 Đại học Giảng viên trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang Phấn Sơn
35 Nguyễn Văn Tài 1974 1989 Đại học Bác sĩ đa khoa – Bệnh viện đa khoa Thái Nguyên Phấn Sơn
36 Đông Văn Cờ Đại tá Cán bộ tỉnh đội Mộc Châu Phấn sơn

Tác giả bài viết: Admin